Lao động nhập cư mất liên lạ được người dân đặt biệt danh là “Đom đóm”trong cánh đồng bận rộn làm việc, những người chiếu sáng nông thôn Đài Loan

Dù là trên núi cao hay đồng bằng, vào ban đêm, trong các vườn rau, luôn có rất nhiều ánh sáng di chuyển và nhấp nháy, nhìn từ xa giống như đom đóm bay lượn ngoài đồng. Người nông dân Daya nói rằng, người dân địa phương rất biết ơn những “đom đóm” này vì nếu không có chúng, rau trồng xong sẽ không thể thu hoạch và không thể bán ra chợ.

Thực ra, những ánh sáng này là của những lao động nhập cư mất tích đang làm việc trong vườn rau, đêm đến họ đeo đèn pin để làm việc. Những con đom đóm thực sự ra ngoài vào ban đêm để kiếm ăn và tìm bạn tình, còn nhóm “đom đóm” trong vườn rau này qua biển đến Đài Loan làm việc với mục tiêu duy nhất là kiếm tiền gửi về nhà để cải thiện kinh tế gia đình.

Lao động nhập cư mất liên lạ được người dân đặt biệt danh là "Đom đóm"trong cánh đồng bận rộn làm việc, những người chiếu sáng nông thôn Đài Loan"
Lao động nhập cư mất liên lạ được người dân đặt biệt danh là “Đom đóm”trong cánh đồng bận rộn làm việc, những người chiếu sáng nông thôn Đài Loan”

Số lao động nhập cư mất tích đã vượt quá 90.000 người, chưa kể những con số lao động nhập cư không chính thức nhập cảnh vào Đài Loan với lý do du lịch, thăm thân, v.v.

Vấn đề thiếu lao động tại Đài Loan không phải là chuyện một sớm một chiều. Chính phủ đã tích cực mở rộng các quốc gia nguồn cung lao động, và từ năm 2022, Đài Loan đã thực hiện “Chương trình Giữ Lại Lao Động Tài Năng”, hỗ trợ các chủ sử dụng lao động giữ lại lao động nhập cư lâu năm và chuyển họ sang công việc có trình độ trung cấp; ngoài việc tăng lương, họ còn có thể xin thẻ cư trú vĩnh viễn. Các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore cũng đối mặt với vấn đề dân số già và tỷ lệ sinh thấp, và họ cũng đã triển khai các chính sách tương tự, hình thành một cuộc “đua” quốc tế giành lấy nguồn lao động chất lượng.

Theo thống kê của Bộ Lao động, đến cuối năm 2024, số lượng lao động nhập cư vào Đài Loan đã vượt quá 820.000 người. Dữ liệu cùng thời điểm từ Cục Di dân cho thấy số lao động nhập cư mất tích ở Đài Loan đã vượt qua 90.000 người, chưa tính những người lao động làm việc bất hợp pháp dưới danh nghĩa du lịch, thăm thân, v.v.

Trong đó, lao động nhập cư từ Việt Nam chiếm số lượng lớn với 42.948 nam và 14.836 nữ, tổng cộng 57.784 người, chiếm 63% tổng số lao động mất tích. Tiếp theo là lao động nhập cư từ Indonesia với 28.557 người. Với đội ngũ kiểm tra của Cục Di dân chỉ có khoảng 2.000 người, trong đó có hơn 500 nhân viên chuyên trách, họ đang phải đối mặt với một cuộc chiến không thể thắng khi lao động nhập cư bất hợp pháp đang hoạt động trong bóng tối.

Số lao động nhập cư mất tích đã vượt quá 90.000 người, chưa kể những con số lao động nhập cư không chính thức nhập cảnh vào Đài Loan với lý do du lịch, thăm thân, v.v.
Số lao động nhập cư mất tích đã vượt quá 90.000 người, chưa kể những con số lao động nhập cư không chính thức nhập cảnh vào Đài Loan với lý do du lịch, thăm thân, v.v.

Do chi phí môi giới quá cao, dẫn đến việc trốn khỏi nơi làm việc là một lựa chọn không thể tránh khỏi.

Nguyên nhân khiến lao động nhập cư phải trốn đi làm việc bất hợp pháp là do chi phí môi giới quá cao, dẫn đến việc trốn khỏi nơi làm việc là một lựa chọn không thể tránh khỏi.

Lấy ví dụ với lao động nhập cư Việt Nam, mỗi người phải trả từ 6.000 đến 7.000 USD cho phí môi giới, vì vậy nhiều người phải vay nợ để có thể đến Đài Loan làm việc, dù chỉ là công nhân trong các nhà máy hoặc làm công việc chăm sóc. Sau khi trừ đi bảo hiểm y tế, phí môi giới, chi phí điện thoại, sinh hoạt và đi lại, số tiền có thể gửi về nhà rất hạn chế.

Để kiếm được nhiều tiền hơn, việc trốn đi làm việc bất hợp pháp là một yếu tố thu hút lớn.

Siêu thị bách hóa di động bằng xe giúp lao động tiện ích hơn trong việc mua sắm

Lao động nhập cư mất tích phân bố rộng rãi ở các vùng nông thôn hoặc khu vực nông nghiệp, cũng như ở các công trường xây dựng, nhà máy, trở thành lực lượng lao động không thể thiếu.

Vào mùa vụ, họ xuất hiện trong các cánh đồng, còn khi nghỉ phép, nhiều con đường ở các vùng quê thường xuyên thấy họ đi lại bằng xe đạp. Những cửa hàng đặc thù trở thành điểm mua sắm của họ, và ở các vùng xa xôi, còn xuất hiện xe buôn di động, chuyên bán các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày cho lao động nhập cư mất tích, có thể đặt hàng qua điện thoại, dịch vụ rất chu đáo.

Để đáp ứng nhu cầu của lao động nhập cư từ các quốc gia khác nhau, một chiếc xe buôn cỡ trung có thể chứa hàng trăm loại sản phẩm, áp dụng triết lý quản lý hiệu quả diện tích tối đa. Một chủ xe buôn tên Lâm cho biết, dọc theo quãng đường dài gần 90 km qua các khu vực miền núi, ông biết chính xác nơi có lao động nhập cư, vì vậy chiếc xe sẽ dừng đúng vị trí thuận tiện để lao động nhập cư ra mua sắm.

Lao động nhập cư thỉnh thoảng xảy ra xung đột xã hội, nhưng tỉ lệ tội phạm tổng thể không cao.

Mặc dù nhiều cư dân nông thôn đã tiếp xúc hoặc chứng kiến lao động nhập cư mất tích, nhưng những lao động này rất ít khi xuất hiện ngoài công việc hoặc mua sắm, do họ sống trong những nơi do môi giới bất hợp pháp sắp xếp hoặc tự thuê nhà.

Phần lớn thời gian, họ chỉ ở trong phòng chơi điện thoại hoặc trò chuyện với gia đình qua phần mềm nhắn tin, ngày ngày chỉ là làm việc, ăn uống, ngủ nghỉ, chơi điện thoại, cuộc sống rất đơn điệu. Vì dù chỉ ra ngoài một chút, họ cũng rất dễ bị kiểm tra và bị bắt.

Tại một làng ở miền Bắc, một lao động nhập cư đã xảy ra xung đột với thanh niên địa phương vì uống rượu, và không lâu sau đó, anh ta bị đội chuyên trách phát hiện và không thể tiếp tục làm việc. Chủ quán ăn họ Trương cho biết, có lẽ anh ta đã bị người khác tố cáo vì mâu thuẫn cá nhân, nên bị Cục Di trú bắt đi.

Lao động nhập cư thỉnh thoảng xảy ra xung đột xã hội, nhưng tỉ lệ tội phạm tổng thể không cao.

Nhiều phương tiện truyền thông không tiếp cận được lao động nhập cư mất tích, nhưng mỗi khi xảy ra vụ việc xã hội liên quan đến lao động nhập cư, họ lại thường xuyên đưa tin một cách khuôn mẫu rằng lao động nhập cư là một “góc khuất” của an ninh xã hội. Thực tế, theo thống kê của các cơ quan cảnh sát và di trú, tỉ lệ tội phạm của lao động nhập cư không cao.

Cựu Bộ trưởng Lao động, ông Hứa Minh Xuân, trong một cuộc phỏng vấn tại Viện Lập pháp đã từng nói rằng tỉ lệ tội phạm của lao động nhập cư chỉ bằng một nửa so với tỉ lệ tội phạm của công dân trong nước. Mặc dù có một số lao động nhập cư phạm tội sau khi bỏ trốn, nhưng phần lớn họ chỉ là những người lấp đầy khoảng trống lao động trong các ngành thiếu nhân lực. Một lao động nhập cư người Việt tên là A Nhật nói: “Chúng tôi làm việc cực kỳ vất vả, không có thời gian nghỉ ngơi, đâu có thời gian chạy ra ngoài phạm tội?”

Lấy ví dụ về những lao động nhập cư mất tích làm công việc thu hoạch rau, trong mùa cao điểm thu hoạch trên núi, họ thường làm việc suốt cả ngày dài. Ngoài việc cắt rau, họ còn phải vác mỗi sọt cải bắp nặng khoảng 30 kg, mỗi lần vác hai sọt tổng cộng 60 kg lên xe tải. Xe tải lớn có thể chở khoảng 300 kiện, tổng cộng 9 tấn, họ có thể làm việc suốt đêm đến sáng, cắt đủ lượng rau để chất đầy vài chiếc xe tải, khối lượng công việc thực sự rất lớn.

Lao động nhập cư mất tích lâu năm thường làm “đầu mối” trong cộng đồng của họ, giúp đàm phán công việc, thuê nhà, sửa xe, v.v.

Lao động nhập cư đến Đài Loan làm việc, xa gia đình, chỉ có thể gặp gỡ người thân qua điện thoại. Một lao động nhập cư đã ở Đài Loan hơn 10 năm, anh tên A Song, đôi mắt anh ngấn lệ nói rằng, con gái anh đã 10 tuổi rồi, nhưng anh chưa một lần ôm con. Đây là điều tiếc nuối lớn trong cuộc sống của nhiều lao động nhập cư.

Mặc dù không thể tận hưởng niềm vui gia đình, cuộc sống cũng rất đơn điệu, nhưng mỗi khi đến ngày lễ của quốc gia mình, họ cũng sẽ chi tiền mua nguyên liệu nấu ăn để chuẩn bị những món ăn quen thuộc.

Một lao động nhập cư từ miền Trung Việt Nam đã ở Đài Loan 10 năm, không chỉ rời khỏi công việc hợp pháp tại nhà máy, mà còn đưa gia đình và hàng xóm của mình, tổng cộng 16 người, đến Đài Loan làm việc bất hợp pháp. Anh nói tiếng Trung rất lưu loát và thậm chí còn giúp các bạn bè và người thân của mình làm việc tại các nhà máy vào dịp cuối tuần, từ đó anh lấy hoa hồng 100 Đài tệ mỗi người mỗi ngày.

Giống như A Hou, những người lao động nhập cư lâu năm ở các cộng đồng lao động nhập cư cũng đóng vai trò như “đầu mối”. Họ thường đã ở Đài Loan nhiều năm, thông thạo ngôn ngữ và môi trường, có thể trực tiếp đàm phán công việc với nông dân hoặc thương nhân, thậm chí giúp đỡ trong việc thuê nhà, mua xe máy hoặc xe hơi, sửa chữa xe, hoặc tìm các nguồn cung cấp gà sống để giết mổ.

Lao động nhập cư mất tích lâu năm thường làm “đầu mối” trong cộng đồng của họ, giúp đàm phán công việc, thuê nhà, sửa xe, v.v.

Một nông dân họ Hứa ở Yunlin cho biết, những lao động nhập cư kỳ cựu rất tài giỏi. Có những người hợp tác với vợ người Việt để thuê đất, lao động nhập cư tự trồng trọt và xuất hàng, tạo ra một chuỗi sản xuất và tiêu thụ khép kín. Không chỉ vậy, họ còn trả giá cao để giành quyền thuê đất nông nghiệp, một sào đất thường có giá từ 5,000 đến 7,000 Đài tệ, thậm chí còn cao hơn, làm rối loạn giá thuê đất nông nghiệp và đối đầu trực diện với nông dân Đài Loan.

Lao động nhập cư trong ngành nông nghiệp phần lớn là lao động thời vụ, do các môi giới bất hợp pháp hoặc những người môi giới (công đầu) liên hệ với nông dân, di chuyển theo mùa vụ và trả lương theo sản phẩm. Một số công việc nông nghiệp cần lao động dài hạn hoặc có kinh nghiệm và kỹ thuật canh tác tốt, nông dân sẽ thuê lao động nhập cư theo hình thức trả lương tháng cộng với ăn ở.

Anh Nam (tên giả), một người trồng nhiều loại cây ở miền Trung, cho biết gia đình anh thuê 4 nam và 1 nữ lao động nhập cư người Indonesia, mỗi người phụ trách công việc nông trại và việc nhà; trong đó có một cặp vợ chồng còn dẫn theo một đứa trẻ sinh ra tại Đài Loan. Mỗi công nhân nam nhận lương tháng 30,000 Đài tệ, công nhân nữ làm việc nhà nhận lương theo ngày 800 Đài tệ, ăn ở được cung cấp miễn phí; vì không phải chi tiêu sinh hoạt, lao động nhập cư rất hài lòng với thu nhập và chủ lao động.

Lao động nhập cư đã trở thành trụ cột cho ngành nông nghiệp của Đài Loan

Số lượng người làm nông ở Đài Loan có xu hướng giảm dần theo từng năm, và số lượng hộ nông cũng ngày càng ít đi; tỷ lệ nam nữ khoảng 7:3, độ tuổi trung bình của nông dân là 64 tuổi, và diện tích canh tác trung bình chỉ khoảng 0.7 ha, có thể nói đây là một mô hình nông dân nhỏ với hiện tượng già hóa dân số điển hình. Các khu đất canh tác nhỏ hẹp và bị phân mảnh không thuận lợi cho việc canh tác quy mô lớn bằng máy móc, ngoại trừ lúa gạo, hầu hết các loại cây trồng khác đều phải dựa vào lao động thủ công.

Trước đây, trong nông thôn thường có hình thức trao đổi lao động, nhưng nay đã suy yếu. Hơn nữa, chương trình lao động nông nghiệp hợp pháp được triển khai từ năm 2019 hiện chỉ có khoảng 20,000 người, vẫn là con số quá nhỏ, và quy trình xin cấp phép vẫn còn nhiều rào cản, do đó lao động nhập cư bất hợp pháp đã trở thành lực lượng chủ yếu để lấp đầy thiếu hụt lao động.

Ông Lin, một nông dân 85 tuổi ở Xiluo, cho biết, ba người con của ông đều không muốn tiếp nhận công việc trồng rau, chỉ muốn giúp đỡ việc tiếp thị và quản lý hồ sơ sản phẩm. Trong làng không có thanh niên nào muốn xuống đồng. Mặc dù ông và vợ đã lớn tuổi, mỗi ngày họ vẫn bắt đầu công việc từ sáng sớm trong vườn rau, và nhiều công việc nông trại chỉ có thể mạo hiểm thuê lao động nhập cư bất hợp pháp giúp đỡ. Họ từng bị báo cáo và bị đội kiểm tra phát hiện việc thuê lao động nhập cư bất hợp pháp, bị phạt 150,000 Đài tệ. “Chúng tôi, những người nông dân, phải trồng rau bao lâu mới kiếm được 150,000 Đài tệ?” Khuôn mặt của người nông dân già đầy vẻ bất lực.

Nguồn: 農田裡的螢火蟲忙做工,失聯移工照亮台灣農村

Lên đầu trang